Hệ thống tọa độ thời gian cổ đại kết hợp 10 Thiên Can và 12 Địa Chi, dùng ghi nhận năm, tháng, ngày, giờ trong lịch pháp Á Đông.
Giải mã cặn kẽ, chuẩn học thuật và dễ hiểu toàn bộ các thuật ngữ bí truyền trong ứng dụng: Can Chi, 12 Trực, 28 Sao, Lục Diệu, Bát Trạch, Tam Tai, Kim Lâu, Thước Lỗ Ban và Quẻ Dịch.
Hệ thống tọa độ thời gian cổ đại kết hợp 10 Thiên Can và 12 Địa Chi, dùng ghi nhận năm, tháng, ngày, giờ trong lịch pháp Á Đông.
Chu kỳ phối hợp 10 Thiên Can và 12 Địa Chi tạo nên 60 đơn vị hoa giáp duy nhất, khởi đầu từ Giáp Tý và kết thúc ở Quý Hợi.
24 mốc phân định thời tiết thiên văn trong năm dựa trên vị trí của Trái Đất quay quanh Mặt Trời (kinh độ hoàng đạo mỗi 15 độ).
Quy tắc khẩu quyết cổ truyền dùng Thiên Can của ngày để tính chính xác Thiên Can của 12 giờ (bắt đầu từ giờ Tý).
Hệ thống phân loại 12 khung giờ trong ngày thành 6 giờ cát lành (Hoàng Đạo) và 6 giờ bất lợi (Hắc Đạo).
Chu kỳ 12 trực quản lý khí tiết từng ngày theo sự vận hành của chuôi chòm sao Bắc Đẩu: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế.
28 chòm sao thiên văn cổ đại phân bố trên 4 phương trời (Đông Thanh Long, Tây Bạch Hổ, Nam Chu Tước, Bắc Huyền Vũ), mỗi ngày do một sao chủ quản.
Phương pháp bấm độn 6 trạng thái thời gian trên các đốt ngón tay do Khổng Minh Gia Cát Lượng đúc kết: Đại An, Lưu Niên, Tốc Hỷ, Xích Khẩu, Tiểu Cát, Không Vong.
Bộ sưu tập các lời răn kinh nghiệm của Tiên nhân Bành Tổ về những việc đại kỵ không nên làm ứng với Thiên Can và Địa Chi của từng ngày.
6 ngày kỵ mỗi tháng âm lịch (mùng 3, 7, 13, 18, 22, 27) dân gian truyền tụng gắn liền với sự sụp đổ của các triều đại cổ xưa.
Ba ngày 'nửa đời nửa đoạn' trong tháng âm lịch (5, 14, 23), dân gian có câu thơ nổi tiếng: 'Mùng năm, mười bốn, hai ba - Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn'.
Tập hợp các sao tốt (Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Hỷ, Sinh Khí) và sao xấu (Sát Chủ, Thọ Tử, Thiên Hình, Đại Hao) phối chiếu trong từng ngày.
Trường phái phong thủy địa lý cổ điển phân chia con người và nhà cửa thành 8 phương vị quẻ, phân định thành Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch.
4 phương vị mang lại sinh khí dồi dào, phúc lộc trường thọ và bình an gia đạo theo phong thủy Bát Trạch.
4 phương vị hung sát cần tránh mở cửa chính hoặc phòng ngủ: Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát và Họa Hại.
Hạn tai ương kéo dài 3 năm liên tiếp theo chu kỳ 12 năm của mỗi con giáp thuộc bộ Tam Hợp Địa Chi.
Hạn tính theo tuổi mụ của người xưa: 'Một, ba, sáu, tám Kim Lâu - Làm nhà, cưới vợ, tậu trâu thì đừng'.
Hạn nhà hoang vắng, lạnh lẽo khí xấu khi khởi công xây dựng vào những năm tuổi rơi vào cung hung Hoang Ốc.
Cây thước đo phong thủy huyền thoại của bậc thầy Mộc Thánh Lỗ Ban, phân định các khoảng kích thước Đỏ (cát) và Đen (hung).
Nghi thức phong thủy cổ truyền nhờ một người nam giới không phạm Tam Tai, Kim Lâu, Hoang Ốc đứng tên thực hiện lễ động thổ thay gia chủ.
Môn mệnh lý học đỉnh cao nghiên cứu vận mệnh con người dựa trên 4 trụ (Năm, Tháng, Ngày, Giờ sinh) với đúng 8 chữ Can Chi.
Bộ cổ thư triết học vĩ đại nhất phương Đông mô tả toàn bộ quy luật biến dịch của vũ trụ và nhân sinh qua 64 đồ hình quẻ kép.
8 đồ hình biểu tượng năng lượng cơ bản của vũ trụ gồm 3 vạch hào Âm/Dương: Trời, Đầm, Lửa, Sấm, Gió, Nước, Núi, Đất.
Học thuyết 5 nguyên tố vận động cơ bản cấu tạo nên vạn vật: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng quy luật sinh dưỡng và ức chế lẫn nhau.
Thuật toán bói toán cổ của nhà chiêm tinh Viên Thiên Cương thời nhà Đường, quy đổi ngày giờ sinh thành số lượng và chỉ vàng để đoán hậu vận.
Quy tắc khẩu quyết cổ truyền dùng Thiên Can của năm để tính chính xác Thiên Can của 12 tháng (bắt đầu từ tháng Dần - tháng Giêng).
Cung quẻ định danh phong thủy của mỗi người dựa trên năm sinh âm lịch và giới tính, là chìa khóa để phối hướng nhà cửa và hôn nhân.
30 loại hình ngũ hành tượng trưng của 60 hoa giáp (như Hải Trung Kim, Lư Trung Hỏa, Đại Lâm Mộc) do cổ nhân phối hợp âm luật và can chi.
Phương vị cát lợi nên bước chân đi đầu tiên khi rời nhà trong ngày để nghênh đón cát khí Hỷ Thần (niềm vui) hoặc Tài Thần (tài lộc).
Hệ tọa độ năng lượng vô hình phản ánh các tác động thời gian của các thiên thể đến các mặt sinh hoạt của con người.
Hai Địa Chi bị khuyết (rơi vào khoảng trống) trong một Tuần Giáp gồm 10 ngày do 10 Thiên Can phối hợp với 12 Địa Chi.
Các mối liên kết tương hòa bền chặt (Tam Hợp) hoặc xung đột gay gắt (Tứ Xung) giữa 12 con giáp Địa Chi.
Cấu trúc trạng thái hiện tại (Quẻ Chủ) và xu hướng tương lai chuyển hóa (Quẻ Biến) thông qua các Hào Động trong dự đoán Dịch học.
Khoảng không gian thực tế mà không khí và ánh sáng có thể đi qua giữa hai mép khuôn cửa hoặc lòng thông thoáng của kiến trúc.
3 yếu tố quan trọng sống còn quyết định sự hưng thịnh của một ngôi nhà ở: Cửa Chính (Môn), Bếp Nấu (Táo) và Phòng Ngủ Gia Chủ (Chủ).
Những ngày có trường năng lượng thanh khiết, được chư vị thần thiện lành che chở, làm việc gì cũng dễ thành công suôn sẻ.
Những ngày chịu sự quản lý của các hung tinh (Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trận), năng lượng trắc trở, cần cẩn trọng phòng ngừa sai sót.
Bí quyết bố trí phong thủy kinh điển: đặt vật dụng đè lên phương vị xấu (tọa hung) và quay mặt về phương vị tốt (hướng cát) để trấn sát tiêu tai.
Thời khắc thiên văn thiêng liêng Mặt Trời chạm kinh độ 315 độ, chính thức khởi đầu một năm Can Chi mới trong phong thủy và Bát Tự (không phải mùng 1 Tết).
Phương pháp giải mã vận mệnh độc đáo biến đổi ngày giờ sinh thành số của Hà Đồ, nạp vào Lạc Thư để dựng thành quẻ Kinh Dịch bản mệnh suốt đời.
Tháng được bổ sung vào năm Âm lịch (cứ khoảng 3 năm một lần) để bù đắp sự chênh lệch khoảng 11 ngày mỗi năm giữa tuần trăng và năm dương lịch.
Thời điểm giao hội khi Mặt Trăng nằm chính giữa Mặt Trời và Trái Đất, đánh dấu điểm khởi đầu tuyệt đối của một tháng âm lịch mới.
Thời điểm trăng tròn nhất trong tháng khi Mặt Trăng nằm đối diện với Mặt Trời qua Trái Đất, thủy triều dâng cao cực đại.
Quy tắc thiên văn cổ quy định một ngày mới trong lịch pháp Á Đông bắt đầu từ 23h đêm hôm trước chứ không phải 00h đêm như dương lịch.
Sự phân chia 24 điểm mốc trên quỹ đạo Mặt Trời thành 12 Tiết Khí xen kẽ với 12 Trung Khí, là chìa khóa tính tháng âm và tháng nhuận.
Thời điểm ngày ngắn nhất đêm dài nhất năm ở Bắc Bán Cầu (kinh độ Mặt Trời 270 độ), đánh dấu thời khắc mầm Dương khí bắt đầu hồi sinh.
Thời điểm ngày dài nhất đêm ngắn nhất trong năm ở Bắc Bán Cầu (kinh độ Mặt Trời 90 độ), dương khí đạt cực thịnh và bắt đầu khởi sinh luồng Âm mới.
Thời điểm Mặt Trời chiếu thẳng xích đạo (kinh độ 0 độ), ngày và đêm dài bằng nhau chính giữa mùa xuân, âm dương hòa hợp vạn vật đâm chồi.
Thời điểm Mặt Trời quay lại xích đạo lần 2 trong năm (kinh độ 180 độ), ngày đêm bằng nhau chính giữa mùa thu, báo hiệu khí thu se lạnh mát mẻ.
5 cặp Thiên Can tương hợp tạo nên ngũ hành mới đại cát: Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa.
6 cặp con giáp kết đôi tương trợ gắn bó khăng khít: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi.
6 cặp Địa Chi đối đầu trực diện 180 độ gây xung đột, biến động mạnh: Tý Ngọ, Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi.
6 cặp Địa Chi ngầm gây cản trở, chia rẽ và tổn hại lẫn nhau: Tý Mùi, Sửu Ngọ, Dần Tỵ, Mão Thìn, Thân Hợi, Dậu Tuất.
Các tổ hợp Địa Chi xung sát gây hình phạt, kiện tụng, tổn thương: Hình vô ân (Dần - Tỵ - Thân), Hình cậy thế (Sửu - Tuất - Mùi), Hình vô lễ (Tý - Mão) và Tự hình.
Khoảng thời gian từ 11:00 đến 13:00 trưa khi Mặt Trời ở đỉnh cao nhất trên bầu trời, Dương khí cực thịnh, thích hợp nghỉ ngơi tĩnh tâm.
Khoảng thời gian từ 23:00 đến 01:00 sáng, lúc vạn vật chìm vào giấc ngủ sâu, Âm khí thịnh nhất chuẩn bị chuyển giao sang Dương mới.
Cách phân chia 60 Hoa Giáp thành 6 chu kỳ 10 ngày (gọi là Tuần), mỗi tuần đều bắt đầu bằng chữ Giáp: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần.
Tọa độ góc của Mặt Trời dọc theo đường hoàng đạo (từ 0 đến 360 độ), là cơ sở toán học tính toán chính xác 24 tiết khí theo thiên văn Jean Meeus.
Hung tinh nguy hại bậc nhất trong ngày, đại kỵ làm các việc lớn như động thổ, cưới hỏi, xuất hành hay an táng vì sợ gây tổn hại đến người chủ sự.
Thần sát cực hung, cổ thư ghi: 'Trời không sợ chỉ sợ Thọ Tử', trăm sự đều nên dừng lại tránh khởi đầu vào ngày này.
13 ngày kỵ bất di bất dịch trong năm do đại phong thủy sư Dương Quân Tùng đúc kết, khởi sự trăm việc lớn đều dễ gặp thất bại trắc trở.
Ngày khí lực tiêu hao, cổ nhân răn 'đi dễ khó về', tối kỵ xuất hành xa, đi buôn đường dài, nhậm chức hoặc dời chuyển nơi ở.
Ngày xấu chủ về phòng the lạnh lẽo, cô quạnh lẻ loi, dân gian tối kỵ tổ chức lễ cưới hỏi, đón dâu hay trải chiếu tân hôn.
Cát thần đệ nhất chủ về ân huệ bao dung của Trời, có công năng mạnh mẽ hóa giải hung sát, đem lại may mắn, bình an cho mọi việc.
Cát tinh đại diện cho âm đức từ ái của Đất Mẹ và Mặt Trăng, đặc biệt trợ lực lớn cho phụ nữ, sinh nở, cưới hỏi và xây dựng tổ ấm.
Cát tinh chủ về niềm vui hỷ sự ngập tràn, cưới xin thuận hòa, sinh quý tử, thi cử đỗ đạt và tin mừng tài lộc từ phương xa gửi về.
Vị thần tối cao đứng đầu cai quản toàn bộ cát hung họa phúc trong cả năm (ứng với chu kỳ quay 12 năm của sao Mộc / Tuế Tinh).
Hung tinh chủ về tai nạn, thương tích đổ máu (huyết quang), va chạm giao thông, phẫu thuật và tranh chấp thị phi nơi công quyền.
Hung tinh chủ về án phạt, vướng mắc kiện tụng tòa án, biên bản giao thông và xích mích với các cơ quan quản lý công quyền.
Hung tinh chủ về hao tài tốn của quy mô lớn, thất thoát tài sản, đầu tư thua lỗ, đại kỵ mua bán tài sản lớn hoặc rót vốn mạo hiểm.
Hung tinh chủ về chi tiêu lặt vặt mất kiểm soát, rơi mất đồ đạc, hỏng hóc đồ gia dụng nhỏ hoặc phát sinh các khoản phụ phí ngoài dự kiến.
Cung vị đầu tiên và tốt lành bậc nhất trong Lục Diệu, tượng trưng cho sự vững như bàn thạch, bình an lâu dài, tài lộc ổn định vững vàng.
Cung vị thứ 3 trong Lục Diệu chủ về niềm vui đến nhanh chóng chớp nhoáng, ký kết hợp đồng chốt đơn thuận lợi, buổi sáng may mắn hơn buổi chiều.
Cung vị thứ 5 trong Lục Diệu mang lại may mắn nhỏ đều đặn, có quý nhân âm thầm giúp đỡ, giải tỏa căng thẳng và duy trì hòa khí gia đình.
Cung vị thứ 4 trong Lục Diệu chủ về khẩu thiệt, cãi cọ, tranh cãi to tiếng, bị hiểu lầm hoặc dính líu đến thị phi đồn thổi ác ý.
Cung vị thứ 2 trong Lục Diệu chủ về sự chậm trễ, kéo dài, công việc dở dang không dứt điểm được ngay, chờ đợi tin tức sốt ruột.
Cung vị thứ 6 xấu nhất trong Lục Diệu, biểu trưng cho sự trống rỗng, hao công tốn của mà không thu lại kết quả, nên án binh bất động.
Trực đứng đầu bảng 12 Kiến Trừ, biểu thị khí thế bắt đầu sinh sôi nảy nở, đại cát cho nhậm chức mới, xuất hành và lập kế hoạch mới.
Trực mang ý nghĩa mở mang thông suốt, đại cát đại lợi bậc nhất trong 12 trực cho khai trương, mở cửa hàng, ký kết và đón dâu.
Trực mang tính phá vỡ xung đột dữ dội, rất tốt cho việc phá dỡ công trình cũ, chữa bệnh giải độc nhưng tối kỵ việc xây cất, cưới hỏi.
Trực cuối cùng trong 12 trực mang tính chất đóng kín, bế tỏa, chỉ thích hợp đắp đập, vá tường, an phận thủ thường, tránh mở mang khai trương.
Cung vị tốt nhất trong phong thủy Bát Trạch thuộc sao Tham Lang Mộc tinh, chủ về tài lộc dồi dào, thăng quan tiến chức và danh tiếng lẫy lừng.
Cung tốt thứ 2 trong Bát Trạch thuộc sao Cự Môn Thổ tinh, là cung vị thần y chữa lành, chủ về sức khỏe dồi dào, tiêu trừ bệnh tật và có quý nhân phù trợ.
Cung tốt thứ 3 trong Bát Trạch thuộc sao Vũ Khúc Kim tinh, chủ về tình cảm gia đình hòa thuận gắn kết, các mối quan hệ xã hội tốt đẹp bền lâu.
Cung tốt thứ 4 trong Bát Trạch thuộc sao Tả Phụ Mộc tinh, chủ về sự tĩnh tâm, củng cố nội lực, thi cử đỗ đạt và bình an tâm linh.
Cung vị nguy hiểm nhất trong Bát Trạch thuộc sao Phá Quân Kim tinh, chủ về hao người tốn của, bệnh tật kinh niên, tai ương phá sản.
Cung xấu thứ 2 trong Bát Trạch thuộc sao Liêm Trinh Hỏa tinh, chủ về hỏa hoạn, trộm cắp tài sản, bất hòa gia đình và thị phi điều tiếng.
Cung xấu thứ 3 trong Bát Trạch thuộc sao Văn Khúc Thủy tinh, chủ về rắc rối pháp lý, kiện tụng, tranh chấp tình cảm ngoài luồng và sa sút tinh thần.
Cung xấu thứ 4 trong Bát Trạch thuộc sao Lộc Tồn Thổ tinh, chủ về những sự cố nhỏ nhặt phiền toái liên tiếp, làm việc gì cũng gặp trở ngại trắc trở.
Tập hợp 4 hướng nhà tốt lành hợp với người có Đông Tứ Mệnh gồm: Hướng Bắc (Khảm), Hướng Nam (Ly), Hướng Đông (Chấn) và Hướng Đông Nam (Tốn).
Tập hợp 4 hướng nhà hợp với người Tây Tứ Mệnh gồm: Hướng Tây (Đoài), Tây Bắc (Càn), Tây Nam (Khôn) và Đông Bắc (Cấn).
Những người có Cung Phi Bát Trạch thuộc 4 quẻ: Khảm (Thủy), Ly (Hỏa), Chấn (Mộc), Tốn (Mộc), phù hợp sinh sống ở các ngôi nhà Đông Tứ Trạch.
Những người có Cung Phi Bát Trạch thuộc 4 quẻ: Càn (Kim), Khôn (Thổ), Cấn (Thổ), Đoài (Kim), phù hợp sinh sống ở các ngôi nhà Tây Tứ Trạch.
Loại thước Lỗ Ban chuyên dụng chiều dài chu kỳ 52.2cm gồm 8 cung lớn (4 tốt, 4 xấu), chỉ dùng để đo kích thước lọt sáng / lọt gió của các loại cửa.
Loại thước Lỗ Ban chu kỳ 42.9cm gồm 8 cung (4 tốt, 4 xấu) dùng đo kích thước phủ bì các cấu kiện xây dựng nội thất như bậc cầu thang, kệ bếp, giường ngủ.
Còn gọi là Thước Đinh Lan chu kỳ 38.8cm gồm 10 cung (6 tốt, 4 xấu), chuyên dùng đo đạc kích thước bàn thờ, tủ thờ, hoành phi và các công trình tâm linh.
Trường phái phong thủy hình thế cổ xưa quan sát hình dáng cụ thể của địa hình, núi non, dòng sông, con đường và các tòa nhà nhìn thấy bằng mắt thường.
Trường phái phong thủy ứng dụng la bàn đo góc độ phương hướng, kết hợp can chi, ngũ hành, quẻ Bát Quái và dòng thời gian để tính toán cát hung.
Các hình thái kiến trúc hung hiểm bên ngoài chiếu thẳng vào nhà như Thương Sát (đường đâm thẳng cổng), Tiêm Giác Sát (góc nhọn mái đình đâm vào), Thiên Trảm Sát.
Khoảng sân vườn hoặc không gian thoáng đãng bằng phẳng phía trước cửa chính ngôi nhà, nơi sinh khí dừng lại tích tụ trước khi dẫn vào nội thất.
Thiên Can của ngày sinh trong Tứ Trụ, đại diện cho chính bản thân người xem mệnh, là hạt nhân cốt lõi để đối chiếu phân tích toàn bộ lá số.
10 mối quan hệ sinh khắc giữa Nhật Nguyên và các Can Chi khác: Tỷ Kiên, Kiếp Tài, Thực Thần, Thương Quan, Thiên Tài, Chính Tài, Thất Sát, Chính Quan, Thiên Ấn, Chính Ấn.
Yếu tố ngũ hành quan trọng nhất có tác dụng cứu nguy, cân bằng âm dương và bù đắp phần khuyết hãm cho toàn bộ lá số Bát Tự.
Cung vị then chốt hàng đầu trong lá số Tử Vi 12 cung, chi phối dung mạo, khí chất bẩm sinh, tài năng và xu hướng vận mệnh cả đời của con người.
Cung vị biểu hiện hành động thực tế, ý chí nỗ lực tự thân và sự chuyển biến hậu vận của đương số từ độ tuổi trung niên (sau 30 tuổi) trở đi.
Dòng thời gian biến chuyển thịnh suy của vận mệnh: Đại Vận kéo dài mỗi chu kỳ 10 năm và Tiểu Vận cụ thể trong từng năm dương lịch.
Cặp hào quan trọng bậc nhất trong cấu trúc quẻ Kinh Dịch: Hào Thế đại diện cho chính bản thân người hỏi, Hào Ứng đại diện cho đối phương hoặc sự việc hướng đến.
Triết lý nhị nguyên căn bản khởi nguồn của vạn vật: Âm nhu thuận tĩnh lặng tối tăm, Dương cương kiện năng động sáng tươi; hai thái cực đối lập nhưng nương tựa nhau.
Hai bức đồ hình số học cổ đại huyền bí xuất hiện trên lưng Long Mã và Rùa Thần, là nguồn cội của Kinh Dịch, Bát Quái và Phong Thủy Bát Trạch.
Quẻ đầu tiên trong 64 quẻ Kinh Dịch gồm toàn bộ 6 hào Dương, biểu tượng cho Trời, sự sáng tạo vô biên, sức mạnh cương kiện, hành động quyết liệt bền bỉ.
Quẻ thứ 2 trong 64 quẻ Kinh Dịch gồm toàn bộ 6 hào Âm, biểu tượng cho Đất Mẹ bao dung, sự nhu thuận, đức dày nâng đỡ vạn vật, bền bỉ phụng sự.
Quy luật biến đổi cốt lõi của Dịch học: Hào Âm già hoặc Dương già chuyển động sẽ đảo chiều phân cực, tạo thành quẻ Biến chỉ báo xu thế tương lai.
Vòng tuần hoàn nuôi dưỡng nâng đỡ sinh sôi của 5 nguyên tố: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Quy luật kiềm chế, áp chế lẫn nhau để giữ vững trạng thái cân bằng: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.